|

GD&ĐT thời WTO: Hướng cái nhìn về nông thôn

Giáo dục & Đào tạo thời WTO:

Hướng cái nhìn về vùng nông thôn!

Gia nhập WTO, chúng ta vừa vui mừng, nhưng cũng không ít nỗi lo như bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày đất nước chúng ta gia nhập vào sân chơi của thế giới phẳng-Thế giới toàn cầu hóa, đã nhấn mạnh ngay từ đầu rằng, đó là cơ hội đồng thời cũng là thách thức và chúng ta cần phải hành động như thế nào để không trượt ra khỏi đường ray phát triển.

Quả thực, như rất nhiều các chuyên gia dự báo, cả trong nước lẫn ngoài nước. Ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý, sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước, đẩy nhanh cổ phần hóa các công ty nhà nước, thực hiện cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, tạo lập và đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường tạo cơ sở pháp lý để thực hiện các cam kết…thì việc đào tạo nguồn nhân lực sau khi gia nhập WTO là một thách thức không nhỏ. Bởi sau bao nhiêu tiêu cực, chất lượng đào tạo không đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tế thì nay nguồn nhân lực lại quá thiếu các công nhân có tay nghề cao và các nhà quản lý giỏi. Giáo dục& Đào tạo vừa phải cạnh tranh với các nền giáo dục tiên tiến đã và đang xâm nhập thị trường nước nhà, vừa phải thực hiện nhiệm vụ xã hội để đào tạo những công dân phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước đang trên đường tiến lên công nghiệp hóa-hiện đại hóa và bước vào nền kinh tế tri thức. Với nguồn nhân lực trẻ chiếm 70% lực lượng lao động, và cũng chiếm tỷ lệ phần trăm tương ứng là lao động từ nông thôn, mà tỷ lệ chưa qua đào tạo chiếm khoảng 75%. Lợi thế của lao động Việt Nam được xem là rẻ, cần cù chịu khó, ham học hỏi...là điều hấp dẫn các nhà đầu tư, nhưng không hẳn là điều tốt. Bởi, không ai muốn bản thân, và công dân nước Việt mãi mãi là người làm thuê trên chính đất nước mình. Thế giới phẳng có thể san phẳng mọi cái hố ngăn cách, nhưng sự phân hóa giàu nghèo cũng đang ngày càng gia tăng những khoảng cách. Nhất là mặt bằng dân trí, kinh tế giữa nông thôn và thành thị. Chiếm hơn 70% dân số làm kinh tế nông nghiệp với mức thu nhập bình quân trên mức ngưỡng nghèo (theo tiêu chuẩn của thế giới), chúng ta phải cần phải làm gì, hành động như thế nào để rút ngắn khỏang cách đó ?. Trong khi cơ sở vật chất, thư viện, trường học thường tập trung ở các thành phố, đô thị lớn. Ai cũng hiểu và nhận thức sâu sắc rằng, chỉ có học, có kiến thức mới giúp con người ta thóat khỏi đói nghèo, lạc hậu, dù làm bất cứ ngành nghề gì. Nhưng với mức thu nhập của người nông dân, một gia đình nuôi một người con ăn học mất khỏang hai năm học nghề, từ 3-5 năm học cao đẳng, đại học, mỗi tháng chi phí cho ăn ở tiện tằn mất khỏang 500 ngàn đồng, mỗi năm khỏang 2-3 triệu đồng học phi hoặc hơn (tùy theo từng trường) thì không phải ai gia đình nào cũng có thể cho con mình theo học được dù con cái họ có đủ năng lực theo học.

Kể từ sau ngày giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cho đến nay hệ thống giáo dục nước nhà đã có những bước tiến đáng kể. Thành tích đáng khích lệ, biểu dương là thành công trong việc xóa nạn mù chữ. Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, 30/60 tỉnh, thành được công nhận phổ cập giáo dục THCS và tiến tới là phổ cập THPT. Cơ sở vật chất, trường lớp ngày càng được kiên cố hóa. Hệ thống GD nghề nghiệp hiện tại có đến hàng trăm trường ĐH&CĐ, trung cấp, dạy nghề được phân bố hầu hết ở các vùng miền, tỉnh thành. Có đến 640 trung tâm GDTX, 7.378 trung tâm GD cộng đồng hiện đã và đang đáp ứng tốt nhu cầu học tập của nhân dân. Phần lớn các trường THPT đã đưa tin học vào giảng dạy. Ở nhiều tỉnh thành đã đưa tin học giảng dạy ở bậc THCS. Tuy sự phát triển về số lượng nhưng chưa tương xứng với chất lượng như mong muốn của người dân, của xã hội. Song đó là điều kiện tốt để ngành GD hoàn thành sứ mệnh cao cả, đào tạo nhân tài cho đất nước. Hỗ trợ đắc lực cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho mọi thành phần, cơ cấu ngành nghề và đặc trưng của vùng miền để nguồn lao lao động đã được đào tạo không bị mất cân đối, dư thừa. Quan trọng là phải thiết kế chương trình linh hoạt. Kết hợp giữa đào tạo ngắn hạn và dài hạn, có tính liên thông, chuyển đổi nghề nghiệp tốt khi người học có nhu cầu. Khẳng định chất lượng ĐT bằng việc học thật, thi thật. Tránh sự phân biệt giữa các loại hình ĐT để khuyến khích sự nổ lực, tự học của mỗi cá nhân, tạo động lực cho người học không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, cũng như chuyển đổi nghề nghiệp khi nhu cầu xã hội có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề. Vậy muốn thực hiện được điều đó ngành GD nên thực hiện như thế nào ?

Xin trích dẫn vắn tắt của bài báo trên tờ Tuổi Trẻ (Tp HCM ngày oaoaavainhh14-11-2006), trong bài "Cơ hội việc làm với Intell", trong tương lai tập đòan này sẽ tuyển dụng khoảng 4000 công nhân trong đó 2500-3000 công nhân lao động phổ thông. Có thể nhận thấy rằng dù là lao động phổ thông, nhưng với tập đoàn này, công nhân ít ra cũng phải biết sử dụng máy tính trong công việc của các nhà máy, biết vận hành từng công đoạn khác nhau. Và họ có hẳn chương trình đào tạo nội bộ cho tất cả các nhân viên khi có nhu cầu nâng cao trình độ với hơn 3000 lớp học. Rõ ràng, với nhu cầu về nguồn lao động phổ thông như vậy. Chắc chắn Intell không thể mang tất cả các công nhân đi học một lúc từ hai, ba năm hay nhiều hơn, vì hiệu quả kinh doanh không cho phép họ phung phí tiền của, thời gian và cơ hội đầu tư, hoặc là tuyển dụng lao động nước ngoài vì chi phí quá cao, mà chắc chắn họ phải đào tạo ngắn hạn cho từng vị trị, công việc cụ thể cho mỗi công đoạn của nhà máy để nhanh chóng đưa máy đi vào họat động. Sau đó mới tiếp tục đào tạo chuyên sâu thêm. Vậy, với một đất nước còn nghèo, nguồn lao động chưa được qua đào tạo chiếm phần lớn. Chỉ có mỗi sự học là được người dân khát khao, mong muốn tìm kiếm một cái nghề để mưu sinh để thoát cảnh nghèo, lạc hậu. Dù rằng các chế, độ chính sách của Đảng, Nhà nước luôn dành sự ưu tiên cho các vùng, miền có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Song cái khoảng cách giữa nông thôn và thành thị về mọi mặt dường như ngày càng dãn rộng ra, và trong xu thế hội nhập, mở cửa điều đó lại càng nhìn thấy rõ hơn. Vậy tại sao chúng ta không thực hiện những chính sách tương tự như Intel (?!) . Thực tế thì tại những thời điểm, ở những vùng miền nhất định chúng ta cũng đã có những chính sách ưu tiên cho các cư dân miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa bằng chính sách cử tuyển. Hỗ trợ dạy nghề để chuyển đổi việc làm khi bị giải phóng mặt bằng phục vụ cho các công trình xây dựng, khu công nghiệp, chế xuất...Song vẫn còn đó những tồn tại mà chưa thể khắc phục được, khiến số lao động dù đã được đào tạo rồi vẫn chịu cảnh thất nghịêp, hoặc quay về làm nông khi dự án triển khai chậm, hay phá sản…

Có thể lấy ví dụ nhà máy đường Linh Cảm. Sự thành bại của dự án có thể còn nhiều vấn đề, nhưng chỉ xin nhắc lại vấn đề về đào tạo và sử dụng nguồn lao động. Để đưa nhà máy đường đi vào hoạt động, thì phải thu nhận lao động rồi đưa đi đào tạo từ 1,5 -2 năm. Nhưng khi nhà máy ngừng hoạt động thì lực lượng đã được địa phương hỗ trợ đào tạo nghề không biết có bao nhiêu phần trăm đi tìm được công việc có liên quan đến chuyên môn đã được đào tạo, nhưng số phần trăm lao động quay trở về làm nông nghiệp không phải là ít và số còn lại tiếp tục "Nam tiến" để tìm việc mưu sinh. Rõ ràng sự thất bại của một dự án, không chỉ có thiệt về ngân sách Nhà nước mà còn phá vỡ thế cân bằng lao động tại những thời điểm nhất định. Ỏ đây xin chỉ bàn về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực xuất thân từ nông thôn nghèo, làm sao để sau quá trình đào tạo nếu không tìm được việc này mà vẫn có thể tìm được việc khác, khi mà cả nước đang có những dự án tương tự như vậy. Thứ nhất: Giảm bớt sự lãng phí thời gian trong quá trình đào tạo cho chính người học. Đặc biệt đào tạo nghề. Thứ hai: Tạo niềm tin cho người lao động rằng mình sẽ có thể kiếm được công việc mới khi công ty, doanh nghiệp làm ăn thất bại hay phá sản. Thứ ba:Tiết kiệm được chi phí đào tạo cho cả ngân sách nhà nước và người lao động. Thứ tư: Kích thich được sự nổ lực nổ lực tự học, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và sẵn sàng chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động bằng chứng chỉ cấp cho người học và được xã hội chấp nhận. Điều đó cần một hướng đi phù hợp với điều kiện kinh tế nước nhà. Do vậy, hệ thồng đào tạo nghề cần kết hợp chặt chẽ với giáo dục chuyên nghiệp và GD phổ thông bằng cách thiết kê các mo-đun chương trình học nghề để mang vào giảng dạy ngay từ bậc PTTH hoặc sớm hơn. Tạo động lực cho người học bằng cách cấp chứng chỉ khi người học học đủ các học phần, tín chỉ mà không quá coi trọng về thời gian hòan thành. Các chứng chỉ cần được xem có giá trị như nhau trong hệ thống giáo dục. Xen lẫn với chương trình ĐT tập trung dài hạn như hiện nay. Nếu không, sau mỗi dự án thất bại, lại đi kèm với một lượng người thất nghiệp dù đã được ĐT mà không có sự định hướng chuyển đổi ngành nghề kịp thời, phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số người học. Được biết sự lãng phí này không chỉ có ở địa phương mà ngay cả một số trường ĐH&CĐ cũng đã dành số lượng chỉ tiêu cho những ngành nghề mà các dự án đã triển khai nhưng hòan thành chậm. Dẫn đến một số lượng SV tốt nghiệp ra trường, hoặc chịu cảnh thất nghiệp, hoặc làm trái ngành, trái nghề. Hiện tại sau bao nhiêu năm trực thuộc bộ GD&ĐT nay lại phân cho Bộ GD&ĐT và Bộ LĐ&TBXH. Dù thuộc thành phần, hệ thống GD nào cuối cùng cũng phải cung cấp nguồn nhân lực phải đáp ứng nhu cầu thực tế xã hội.

Khi điều kiện kinh tế phát triển, các ngành nghề mới lại xuất hiện thì sự thiếu hụt nguồn nhân lực thức thời ở một số ngành nghề là điều không thể tránh khỏi. Thực tế xã hội hiện nay còn chịu sự chi phối của lao động di cư không chỉ từ nông thôn lên thành thị, từ miền núi xuống đồng bằng mà còn có lực lượng lao động từ nước ngoài. Sự di cư lao động đồng nghĩa với sự cạnh tranh lao động. Đó là điều hiển nhiên chắc chắn không có nền GD nào, hay chính sách quản lý của nước nào ngăn cản được. Nhưng đối với những ngành nghề đang sử dụng số lượng lao động theo mùa vụ tăng, liệu có nên nghĩ rằng cần có một chương trình đào tạo nghề phù hợp, linh hoạt ngay lúc việc làm còn đáp ứng nhu cầu của người lao động bằng một ngành nghề khác có định hướng theo nhu cầu thị trường lao động ?!. Làm sao để tạo được việc làm liên tục cho người lao động khi một số ngành nghề dành cho lao động nhân công rẻ, đông …đáp ứng cuộc sống mưu sinh, tồn tại ở các khu đô thị mới, khu công nghiệp, chế suất... để tránh được tình trạng thiếu lao động cục bộ, khó tuyển khi vào mùa vụ mới. Đặc biệt với các ngành nghề như da giày, may mặc... Giải quyết về bài tóan nguồn nhân lực này chắc chắn không phải quá khó, nếu như ngoài việc hỗ trợ về nơi ăn, chổ ở, sinh hoạt cho người lao động thì việc thiết kế các chương trình ĐT về các ngành nghề dịch vụ đang phát triển khác để người lao động có thể tìm được công việc khác khi công việc chính cần ít nhân công hơn. Chắc rằng một người sống ở các thành phố, khu đô thị lớn đều biết rất rõ. Với lương công nhân bình quân khỏang từ 800 ngàn đến khỏang 1,2 triệu (vào dịp công việc nhiều, phải tăng ca thì có thể cao hơn), trừ đi chi phí thuê nhà, ăn ở, sinh hoạt ..thì số dư của họ không còn là bao. Thế nên, thực trạng thiếu các nguồn lao động ở các khu công nghiệp ở Miền nam vào dịp sau tết vẫn thường xảy ra. Bởi nguồn lao động không mất nhiều thời gian ĐT, hoặc chưa qua ĐT có xuất xứ từ nông thôn vẫn chiếm phần lớn nghĩ rằng khó có thể bám trụ lâu dài nơi đất khách cái gì cũng đắt đỏ phải sử dụng đến nhiều dịch vụ phục vụ cho cuộc sống thường ngày.

Giờ đây, khi chúng ta đã gia nhập WTO. Không sớm thì muộn. Không nhiều thì ít. Lời cảnh báo "cơ hội nhiều và thách thức cũng lắm". Có thể chúng ta thấy đất nước giàu lên nhanh chóng nhờ các công ty, doanh nghiệp làm ăn đạt hiệu quả tốt, nhưng cũng sẽ thấy những doanh nghiệp công ty thất bại, hay phá sản và hệ quả, sẽ có những người lao động của những ngành, nghề nào đó phải chịu thất nghiệp vào những thời điểm nhất định. Đi đâu, về đâu sẽ tự người lao động quyết định. Song nếu không kịp thời chuyển đổi nghề nghiệp sẽ tạo ra hiệu ứng không tốt không những cho nền kinh tế mà cả sự quản lý xã hội về lao động. Chúng ta xem công nhân lao động là lực lựợng tiên phong mà nhận thấy sự bất cập về việc ổn định đời sống lâu dài cho họ nhưng chưa thực hiện được, liệu có phải trách nhiệm riêng của của ngành GD ?. Nhưng để xây dựng một chương trình hành động về việc này thì trước hết phương hướng cần được ngành GD đặt ra để thực hiện sự vận động của tòan xã hội đạt hiệu quả cao hơn. Được biết, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân vừa đưa ra tiêu chí, đinh hướng GD với chi phí thấp. Hy vọng đây là niềm tin vững chắc cho các HS. SV nghèo, đặc biệt là là những HS, SV xuất thân từ nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Lê Trang Tuấn

Bài sau:

Hòan thiện cấu trúc chương trình cho từng bậc học

Posted by LÊ TRANG TUẤN on 11:26:00. Filed under . You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0. Feel free to leave a response

Recently Commented

Recently Added

Google+