Cần một nền giáo dục mở
Cần một nền giáo dục "mở" !
"Nhân tài là nguyên khí của quốc gía" câu nói ấy đã từng được nhắc nhở nhiều trong lịch sử ngàn năm dựng nước Và hôm nay, với xu thế phát triển của khoa học khoa học hiện đại mỗi công dân lại càng ý thức rõ điều đó. Nhưng một nền giáo dục như thế nào mới tạo ra những nhân tài, những nhà lãnh đạo, quản lý tài ba, kiệt xuất đấy mới là cốt lõi vấn đề đang cần được giải quyết rổt ráo. Hướng tới một đất nước hiện đại văn minh điều nhất thiết là nền giáo dục cần phải tạo ra nhiều giá trị để gia tăng nguồn vốn xã hội. Muốn làm được điều đó cần thiết một giải pháp tổng thể cho sự nghiệp phát triển GD và sự phát triển chung của đất nước.”
Hệ thống giáo dục trong những năm qua thực sự được dư luận quan tâm, và là một trong những vấn đề "nóng" trên các diễn đàn thông tin đại chúng. Sự quan tâm của xã hội trước chất lượng giáo dục của toàn bộ hệ thống quá kém, nảy sinh các vấn đề phức tạp khác trong sự quản lý điều hành xã hội, khiến nó trở thành vấn đề được bàn thảo nhiều tại các kỳ họp Quốc hội.
Có thể nhận thấy, với khoảng hai chục năm qua. Ngành giáo dục đã tiến hành không dưới ba lần cải cách và cũng ngần ấy lần thử nghiệm các chương trình sách giáo khoa ở bậc học phổ thông. Một sự lãng phí tiền của, công sức xã hội sau mỗi lần thay đổi, chỉnh lý sách giáo khoa, làm tăng mối lo toan cho các bậc phụ huynh phải tốn thêm một lượng tiền vào đó, mà có tới hơn 70% dân số này là nông dân, nhưng đâu thể hoàn thiện được sự mong muốn của các nhà giáo dục rằng sẽ đưa nền giáo dục nước nhà sánh vai các cường quốc.
Sau bao cuộc cải cách, là bấy nhiêu cách thay đổi hình thức thi cử mà chất lượng nền giáo dục vẫn mong sao cho "đến ngày xưa". Đặc biệt cách thi tuyển sinh như hiện nay vẫn chưa thể đảm bảo một cách khách quan trong việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài. Trong khi các nước có nền giáo dục tiên tiến đã có những bước đột phá và có hệ thống trong việc lựa chọn và bồi dưỡng nhân tài ngay từ rất sớm bằng cách tổng hợp nhiều phương pháp thi tuyển khác nhau.
Hình thức tuyển sinh ba chung như hiện nay ít nhiều vẫn còn mang tính chất của giải pháp tình thế. Nếu như hình thức tự luận chỉ có thể đánh giá ở mức độ hiểu biết kiến thức, cách trình bày, thể hiện phương án giải quyết, thì phương pháp trắc nghiệm lại cho phép kiểm tra lại tất cả nhưng gì kiến thức đã được học một cách tổng quát và đầy đủ nhất.
Nhưng với mỗi ngành nghề riêng biệt có đạt được thành công ở mõi cá nhân sau này hay không thì cần phải xét tới yếu tố tâm lý, khả năng ứng xử, sở thích, năng khiếu, chỉ số IQ... của mỗi cá nhân, thì chỉ có phương pháp phỏng vấn trực tiếp từ các chuyên gia, các bậc học giả mới có sự đánh giá chuẩn xác nhất để tìm kiếm và bồi dưỡng, đào tạo ra các thế hệ nhân tài cho đất nước.
Nhưng oái ăm thay, một thế hệ đã được học bằng chữ A khi bắt đầu tới trường, nay phải chứng kiến con cháu mình phải học chữ E trước tiên. Và kiểu cách chữ viết được thay đổi đã làm hỏng phông nền chữ viết của phần lớn các cử nhân kỹ sư mà chúng tôi thường gọi đó là thời đại chữ viết của các công dân @-bút nguyên tử. Sẽ không công công bằng mà đưa ra sự đánh giá như vậy.
Song nếu thử làm một phép điều tra so sánh trình độ học vấn và cách viết, trình bày con chữ của những người đi học ngày trước và hôm nay chắc hẳn sẽ có sự khác biệt mà phần "đẹp" sẽ nghiêng về thế hệ cha anh. Các cụ đã dạy "lời văn, nét chữ" thể hiện rõ văn hoá, tính cách của mỗi con người.
Vậy thì tại sao không tạo một nét đặc trưng cho người người Việt qua hành động nhỏ nhoi mà chúng ta luôn phải thực hiện hàng ngày mà giáo dục nước nhà cần phải hoàn thành sứ mệnh cao cả đó.
Trở lại vấn đề, may sao được đông đảo dư luận xã hội quan tâm, nên vấn đề "chữ A hay chữ E trước" đã kịp quay về vị trí cũ của nó. Nhưng điều đó đã buộc công luận và dư luận xã hội phải đi tìm sự thật của vấn đề. Và vấn đề được tìm ra nguyên nhân từ soạn thảo sách giáo khoa là chỉ dành riêng cho một nhóm người. Nên sự cố chỉ được khám phá ra khi sản phẩm đã được sử dụng mà quên mất sự thẩm định của các nhà sư phạm, đặc biệt là các giáo viên đứng lớp.
Bởi từ công việc giảng dạy của giáo viên mới có sự phản hồi từ việc tiếp nhận kiến thức của học sinh đạt đến tầm mức nào để mà đánh giá, định lượng chuẩn kiến thức cho từng lớp học, cấp học. Bởi nói đến sách giáo khoa (SGK), cần thiết phải nhắc đến lượng kiến thức được chuyển tải tới cho học sinh. Nhưng với một học sinh lớp bốn, lớp năm mà phải giải quyết một lượng bài tập về số học mà giáo viên thường cho cách giải quyết bài toán theo công thức sẵn có, có thể chỉ làm trong 5 đến 10 phút là xong mà không cần động não. Nếu là khác đi một chút thì xem như đã đầu hàng, thử hỏi giáo dục theo cách đó nên không ? Tư duy của người học liệu có phát triển hay được nâng cao ?.
Tôi đã thử hỏi một vài người bạn dạy học PTTH. Nếu để số lượng bài tập đó thì bạn phải mất bao lâu. Có người trả lời mỗi bài ít nhất 15 phút và còn phải tham khảo lại sách vở mới chắc chắn. Vậy chỉ cần 4 bài đã mất một tiếng đồng hồ đối với người lớn. Còn đối với các em bậc tiểu học phải mất bao lâu ?. Còn đâu thời gian cho các em vui chơi, giải lao khi các môn học khác vẫn còn bài tập !? . Nếu tôi nhớ không nhầm trong một bài báo về giáo dục, một giáo sư toán học cũng đã từng kêu ca về đứa cháu đang học lớp năm của mình đang phải giải những bài toán số học khiến ông cũng phải "đau đầu" vì phải mất nhiều thời gian để giải quyết
Thực sự là một sự đối nghịch Khi chương trình GD PT được thay đổi xoành xoạch trong khi giáo trình bậc GD đại học có đến hàng chục năm vẫn giữ nguyên. Tri thức khoa học ngày một phát triển mà lượng kiến thức cập nhật cho sinh viên và giới nghiên cứu còn hạn chế thì khó mà tiếp cận được với nền giáo dục tiến tiến, tri thức khoa học hiện đại để phát triển đất nước.
Đã là tri thức khoa học thì nó sẽ có giá trị mãi mãi, chứ đâu phải chỉ dùng được năm bữa, nửa tháng là hết đát đâu mà phải liên tục thay đổi. Nếu cảm thấy chưa thực sự tin tưởng vào lượng kiến thức chuẩn cần thiết phải chuyển tải tới người học bởi tính khoa học, học thuật phù hợp cho tất cả mọi đối tượng người học có thể tiếp thu nhanh nhất, hiệu quả nhất thì nên áp dụng những hình thức khác. Chẳng hạn báo chí có thể phát hành phụ trương, tăng thêm trang khi có nhiều thông tin cần đăng tải.
Vậy SGK khoa muốn tăng lượng kiến thức, hay muốn lược bỏ những phần nào đó sao không làm theo cách như báo chí từng làm ?. Khi lượng kiến thức đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu đặt ra rồi hoàn thiện bộ SGK chuẩn đâu đã muộn ! Chứ đâu cần phải thay đổi một cách ngẫu hứng, tuỳ tiện. Được thì tốt, không được thì làm lại, như thế quá lãng phí công sức, tiền của xã hội và làm tăng thêm mối lo cho các bậc phụ huynh khiến dư luận phải đặt câu hỏi: Có phải ngành giáo dục thay đổi SGK một cách liên tục là một hình thức kinh doanh độc quyền ?.
Khi kiến thức đã được biết bao thế hệ học trò phải học tập, nghiên cứu thì khó có thể nói đến cái sai sót trong đó mà chỉ nên chú trọng tới cách thức tiếp cận, phương pháp dạy và học, cách đặt và giải quyết vấn đề phù hợp để tiếp thu kiến thức nhanh hay chậm mà thôi.
Có thể là một sự lưu tâm đáng suy nghĩ nhưng đầy trăn trở cho những người biên soạn SGK nước nhà khi thế hệ sinh viên, học sinh hôm nay vẫn đi tìm những cuốn sách toán học của Liên Xô cũ mà hàng chục năm trước các thế hệ cha anh đã học làm sách gối đầu, mặc dù hiện tại đã có rất nhiều nguồn sách học từ nhiều nước có nền GD dục phát triển khác, bởi nó hội tụ được tính sư phạm, tính học thuật trong cách viết, cách trình bày và giải quyết vấn đề. Luôn tạo cho người đọc-người học một khả năng vận dụng kiến thức để tư duy tốt, giải quyết vấn đề nhanh.
Có điều, đã là chân lý thì không bao giờ sai, nhưng kiến thức khoa học nhân loại là một thế giới mở. Nếu chưa dám chắc một điều gì thì hãy mở rộng cửa, ngõ hầu tới tất cả mọi đối tượng quan tâm, hiểu biết. Điều đó sẽ phát huy hết năng lực phát triển của cộng đồng xã hội, tạo nên sự thành công cho bất kỳ ai, xã hội nào, ở công việc gì mà chính người quản trị trang web bách khoa toàn thư trực tuyến lớn nhất thế giới là trang "wikipedia" vừa được tạp chí Time của Mỹ chọn là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới nhờ tư tưởng : Bất kỳ ai cũng có thể đóng góp cho trang trang web của mình, từ người đọc bình thường cho đến những bậc học giả. Thiết nghĩ tư tưởng đó không chỉ dành riêng cho các nhà quản lý giáo dục mà tất cả mọi người.
Bởi từ lâu nền giáo dục chúng ta đang thụ hưởng một cách tiếp thu một chiều, không nguồn phản biện từ chính người tiếp thu. Tạo nên một thói quen thụ động để hình thành nên những con người thiếu bản lĩnh, sự tự tin khi gặp các tình huống ngoài sự dạy bảo. Nói cụ thể là ít có sự tư duy sáng tạo, lâu dần thành một thói quen, lê lối thích an phận thủ thường như một nét rất đặc trưng.
Có một sự khác biệt rất lớn của nền GD nước nhà mà người viết cảm nhận rằng: Nền GD nước ra kêu gọi phổ cập các bậc học phổ thông nhưng chương trình mang nặng tính học thuật hơn là phổ cập. Bởi chính những cuốn SGK, giáo trình dành cho các đối tượng ở bậc học này thường dành phần lớn lượng kiến thức, bài tập như những học sinh trường chuyên, và của các sinh viên chuyên nghiệp.
Liệu có nên không ? khi chúng ta kêu gọi phổ cập GD mà lượng kiến thức người học phải học như là một lời thách đố thì gọi là phổ cập làm gì ?. Đó có thể là một nguyên nhân dẫn tới tình trạng học, dạy thêm tràn lan mà chưa có án giải quyết triệt để trong xã hội.
Bởi phần lớn sự lo lắng của con em mà các bậc phụ huynh luôn suy nghĩ rằng các em là những con người của thời đại CNH-HĐH, thời đại của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin bùng nổ thì mỗi bước tới trường, tới lớp là một nỗi lo toan, trăn trở. Không một ai nghĩ rằng con mình phải chịu thua chúng bạn về việc học.
Nếu như thấy con mình học đuối hơn chúng bạn một chút là phải cho đi học thêm ở nhà giáo viên hoặc mời giáo viên về nhà kèm ngay, mặc dù vẫn biết con mình đang học quá sức. GS Hồ Ngọc Đại đã từng viết trên tờ Văn Nghệ (25-03-2006) rằng nên có sự thay đổi về cách thức phân bố lại thời gian đào tạo ở các bậc học phổ thông chỉ nên đào tạo 10 hoặc 11 năm thay vì 12 năm như hiện nay, với ý diễn giải rằng con người trong xã hội ngày nay, trí tuệ, tâm sinh lý có mặt bằng phát triển chung nhanh và cao hơn so với các thế hệ trước.
Vả lại, nếu với phương thức đào tạo 12 năm, và đi học lúc 6 tuổi thì luc tốt nghiệp phổ thông cũng đã đạt 18 tuổi-cái tuổi có đầy đủ quỳền và nghĩa vụ của một công dân rồi, các bậc sinh thành xem như đã hết nghĩa vụ (dĩ nhiên nói trong một phạm vi nào đó), mà nền giáo dục chưa tạo được cho các em một sự chuẩn bị nào để bước vào đời lập nghiệp một cách tự tin thì thật sự là một mối lo của toàn xã hội khi mà định hướng nghề nghiệp từ bậc phổ thông trung học chưa thực sự có những bước đột phá và chưa phổ biến khắp các tỉnh thành. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, nếu chỉ học hết 12 cũng chỉ là xoá mù kiến thức thôi, bởi các anh chị tốt nghiệp cử nhân, kỹ sư ra trường vẫn thất nghiệp còn nhiều.
Hơn nữa, một nền giáo dục cứ chăm bẳm đào tạo theo kiểu luyện "gà nòi", buộc các em trỏ thành "nhân tài", khai thác trí nhớ tối đa của các em ngay từ bậc tiểu học bằng cách bắt các luyện ngay những "ngón nghề" mang nhiều tính học thuật trong lúc trình độ nhận thức không đủ để khai quát hết vấn đê, để giật giải này, giải nọ mà quên đi chúng ta đang quá chậm trong cách tiếp cận những nền khoa học hiện đại khác. Người học mất đi tính tự tin, tư duy sáng tạo, khi tiếp xúc với những vấn đề mới mà GS Hồ Ngọc Đại ví von rằng: Ngày trước đi bộ là bình thường, còn ngày nay đi ô tô cũng là bình thường mà là phải đi bằng tàu điện ngầm, máy bay, tên lửa. Nếu nền giáo dục nước nhà vẫn giữ tốc độ bằng cách thức đào tạo như hiện nay thì khó mà đuổi kịp các nước.
Do vậy, nền giáo dục phổ thông 10 năm là đủ. Hai năm còn lại nên định hướng giáo dục nghề nghiệp, hoặc xen kẽ giáo dục nghề nghiệp cho cả bậc giáo dục phổ thông, nhưng có cách thức phân bổ chương trình đa dạng, phù hợp, và tuỳ theo điều kiện của học sinh để các em có quyền chọn lựa. Chỉ nên dạy những kiến thức đủ cho học sinh biết cách tư duy sáng tạo cho việc định hướng nghề nghiệp lúc bước vào đời, công việc chuyên môn hơn là cứ chăm bẳm những bài toán hóc búa để đánh đố nhau, trong khi người khác đã chạy quá xa.
Một ví dụ được dẫn chứng rất nhiều trong rất nhiều bài báo đã được đăng tải trên các diễn đàn thông tin đại chúng. Rằng nền giáo dục chúng ta bắt người học học quá nhiều lý thuyết suông. Tuy học rất giỏi, nhưng đối mặt thực tế thì chịu thua người nước ngoài. Ngay cả khi đi học cử đi học ở nước ngoài. Liệu đó có phải là một sự thấm nhuần nền giáo dục phổ thông của nước nhà đã ảnh hưởng rất lớn đến mỗi cá nhân.
Dẫu sao, thì GD nước nhà hơn hai chục năm qua cũng đã và đang có những bước chuyển mình tích cực. Các loại hình đào tạo tại chức, từ xa, liên kết.... đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của của người học. Song vẫn còn có nhiều sự bất cập trong mô hình quản lý, đào tạo, thiếu tính nhất quán, không đồng bộ khiến người học phải mất rất nhiều thời gian, bởi nhiều khi người học cảm thấy không rõ đâu là cái chuẩn để mình chọn lựa.
Hệ thống GD hiện tại đang có sự phân biệt xã hội rõ rệt giữa đào tạo chính quy và không chính quy, giữa công lập và dân lập mà xét cho cùng thì giá trị bằng cấp thường được quy đổi bằng đồng lương của người đi làm nhà nước, nhưng lại ít đánh giá bằng năng lực làm việc. Cho nên, học là để thăng quan, tiến chức, là để tăng trị số lương bổng.
Bất kể là tại chức, hay chuyên tu, công lập hay dân lập miễn sao học xong có chổ để làm việc chứ tỷ lệ thực học chiếm bao nhiêu phần trăm trong số đó. Và GD cũng đã kịp lây những đối tượng này làm khách hàng tiềm năng. Các trường công lập thì mở đào tạo tại chức liên kết với các tỉnh thành khắp đất nước. Đã từng một thời, những sinh viên không thi chuyển được giai đoạn đã phải xem các trường dân lập như là cứu cánh. Dẫu sao một nền GD tinh hoa chưa thể đáp ứng được nhu cầu của người học. Nhưng chính trong nhứng quy định về quy chế tuyển sinh theo niên chế và chỉ tiêu đã không cho phép các trường dân lập tuyển được nhiều sinh viên có chất lượng để đào tạo.
Tóm lại, giáo dục không thể là một công trình kiến trúc khép kín, với đầy đủ tiện nghi đã được thiết kế sẵn có thể sử dụng cho hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Nó cần phải được thiết kế mở để phục vụ nhu cầu đa dạng của người học nhờ các tính chất liên thông, chuyển đổi một cách linh hoạt.
Người học giờ đây không chỉ có học một chuyên ngành là có thể yên tâm tìm công việc mà là hơn. Có thể phục vụ cho công việc hiện tại, cũng có thể phục vụ cho nhu cầu chuyển đổi công việc khi thị trường lao động có sự biến chuyển cơ cấu lao động trong từng ngành nghề. Đặc biệt khi chúng ta đã gia nhập WTO, thời khắc mà bất cứ thị trường nào cũng phải cạnh tranh chứ không riêng gì thị trường hàng hoá tiêu dùng, trong đó có cả thị trường lao động.
Do vậy giáo dục cần phải tạo điều kiện cho người học có thể lựa chọn định hướng nghề nghiệp một cách tốt nhất. Cơ hội tìm kiếm việc làm khi ra trường đạt cao nhất, chứ không nên đóng khung trong chương trình, quy cách và chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm. Điều cần thiết là người đi học phải thoả mãn khi học mình đạt được những gì mà kiến thức mang lại có như bản thân mong muốn hay không mà thôi .
Vậy thử hỏi trong hai chục năm cải cách giáo dục, nghành GD đã làm được những gì?. Đã từng có một thời gian dài hệ thống GD nước nhà dường như chỉ tồn tại hai bậc GD nghề nghiệp: Đại học và trung học chuyên nghiệp. Còn bậc cao đẳng thì quá hiếm. Những người không trúng tuyển đại học, dù có muốn nâng cao trình độ cũng rất khó khăn để đi học tiếp và thường mất rất nhiều thời gian và chỉ thường chỉ có học hàm thụ, chuyên tu. Sau này thêm hệ tại chức.
Có lẽ sự phân biệt bằng cấp trong xã hội bắt đầu từ đây, bởi chúng ta vẫn thường nghe câu nói muôn thưở: Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức. Mà quên đi sự nổ lực có gắng của bản thân người đi học và sự hoàn thiện để nâng cao trình độ nghề nghiệp của họ. Khi nền giáo dục tại chức nở rộ, thì tính liên thông giữa các ngành nghề và bậc học cũng không có bước cải tiến đáng kể nào. Ngay cả khi một số trường đưa học chế tín chỉ-hình thức đào tạo của các nước có nền GD hơn hẳn chúng ta thì người đi học vẫn chưa hết vất vả. Bởi mỗi khi người đi học muốn chuyển đổi nghề nghiệp, hay chuyển tiếp các bậc học thường phải học lại từ đầu, cho dù có những môn học đã được học trước đó đã từng học.
Chu Lai: 19/06/2006
Lê Trang Tuấn
Bài sau:
Cần một cơ chế tương tác phản hồi cho bộ máy quản lý